Ký ức về chùa Tam Bảo Hà Tiên

| 07/02/2014 | 1 Comment

Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 144 & 145 | Bài & ảnh:  MINH  CƯỜNG

ky-uc-chua-tam-bao-ha-tienTôi rời chùa  Tam  Bảo Hà Tiên gần  nửa  thế kỷ, đến nay chưa một lần có dịp về thăm. Ở chùa Tam Bảo, tôi có nhiều kỷ niệm êm đềm, không nhạt nhòa theo năm tháng  mà sống mãi trong tôi, càng lúc càng đậm mỗi khi nhớ Hà Tiên. Do vậy, lúc viết những dòng này, tôi đang trở ngược thời gian, tìm quá khứ. Nó giống như một cuộn phim được phục  hiện, lần lượt cho thấy những  hình ảnh thấm đậm tình cảm trìu mến và một khung cảnh đầy thơ mộng…

Tôi đến Hà Tiên dạy học năm 1962, do được thuận duyên, tôi vào dung  thân  cửa thiền là chùa Tam Bảo Hà Tiên nhưng  vẫn ra ngoài ăn cơm tháng. Mỗi ngày dùng cơm trưa xong, tôi lững thững về chùa. Đường sá Hà Tiên khi đó tuy nhỏ hẹp nhưng hầu hết được tráng nhựa sạch sẽ. Đi rảo bộ ngoài đường giữa nắng chang chang  chỉ một lúc là vã mồ hôi ngay, thế nhưng  vừa vào khuôn viên chùa, không biết gió ở đâu phả vào người mát rượi… Trong lúc tôi đang  nhẩn nha ngắm cảnh  thì nghe  có tiếng  nhạc  mõ. Tôi đảo  mắt  nhìn quanh. Ôi chao! Một đàn bò năm con lớn nhỏ, cổ lòng thòng  dây đeo mõ, ung dung  gặm cỏ, chúng  ngang nhiên vào đây lúc nào không ai biết. Nghe “nhạc bò” giữa trưa rất lạ, lòng tôi bỗng  dưng  vui. Nhưng phải đuổi chúng ra ngoài thôi. Tôi đuổi mà cười một mình, vừa nghĩ: “Mình đang vui thú ở Sài Gòn, sao về đây làm thầy giáo… đuổi bò. Lại ở chùa nữa chứ!”.

Từ cổng, lối vào chùa thật sâu, lúc nào cũng rợp mát giữa hai hàng cây sao thẳng tắp, vút lên trời xanh trong khi dưới thấp sát đất thì cây cỏ hoa lá đan xen dày kín, tạo thành một ranh giới tách biệt: Trên cao – Dưới thấp, trông thật lạ mắt; và tôi cảm nhận một mùi thơm tỏa nhẹ trong  không khí. Bước chân đưa tôi đi thẳng  tới hành  lang nhà khách, toàn  cảnh mặt tiền ngôi chùa giờ đây hiện lên một màu trắng toát trong trẻo, sáng ngời. Tôi lóa mắt bởi cảnh tượng kỳ diệu này. Rồi một tiếng ph…rrựt khô khốc làm tôi giật mình, vừa lúc một đàn bồ câu đang kiếm ăn bay lên loạn xạ. Chúng đồng loạt đậu trên nóc chánh điện, đầu gục gặc, gục gặc… Hình như đã lâu, chúng làm tổ trong các khoảng trống dưới mái ngói. Tôi thầm nhủ: “Này bồ câu, sao các bạn không ở chốn lầu son gác tía, sẵn thức ăn ngon, được ông chủ tưng tiu nuôi nấng mà đến ở cảnh chùa nghèo nàn thanh vắng như thế này. Phải chăng các bạn cũng như tôi, tôi rứt bỏ không luyến tiếc chốn phồn hoa đô hội, có đủ các món ăn chơi. Bởi ở đó, tôi cảm thấy cô đơn khắc khoải và day dứt khi va chạm thực tế. Cũng giống như các bạn, tôi thích cảnh sống thanh  bần và con người hiền hòa nhân  hậu, hiếu khách. Lại được hòa mình vào thiên nhiên ngọt  ngào hoa cỏ, khí hậu trong lành tốt tươi… Do vậy, tôi về đây nương tựa cửa thiền khi ngoài kia đang mịt mù khói lửa chiến tranh. Chùa chiền là nơi trú ẩn an toàn  nhất  trong  thời tao loạn. Nếu  các bạn ở ngoài kia, chắc chắn các bạn sẽ gặp nhiều rủi ro. Điều lo ngại nhất, chẳng  phải diều hâu, đại bàng hay chim cắt… Có một loài động vật tỏ ra cực kỳ hiếu sát, thích giết các bạn để ăn thịt, để giải trí, để mua bán hay giết để giết chứ chẳng có mục đích gì. Các bạn biết không? Đó là con người! Tôi mừng  cho các bạn đã tìm được chỗ ẩn náu an toàn vì không ai vào chùa hãm hại các bạn. Nếu có, đó là một tội ác, dầu chỉ giết một con chim nhỏ bé”.

Đàn bồ câu thấy êm, lại sà xuống nhặt  nhạnh.  Để mặc chúng tự nhiên, tôi đi bọc ra phía hậu liêu, chuẩn bị lên nhà hậu tổ, chợt tôi thấy một con rùa to, ước nặng tới năm ký, mình phủ đầy rong rêu, mai dày cộm, sần sùi, chứng tỏ con này sống đã lâu lắm. Tôi ngạc nhiên quá, lại sững sờ thấy nó đang trầy trật leo lên từng bậc thềm. Vừa xúc động  vừa thương, tôi bước tới tính đỡ nó lên thì Bà Cô Giữ Chùa (tên gọi thân mật) nói: “Cứ để tự nhiên, nó leo lên được mà!”. Quả thật, chốc sau rùa ta đã nằm im dưới bàn thờ Tổ. Trên bàn thờ, ảnh bán thân Sư Ông* được phóng to, lồng trong khung gỗ bóng ngời và được treo một cách trang trọng.

Bà Cô kể: Con rùa này do Sư Ông phóng sinh lúc làm trụ trì ở chùa đây, thời còn thực dân Pháp cai trị. Tuy Sư Ông viên tịch đã lâu nhưng hễ đến ngày cúng giỗ, các Phật tử cao niên cùng nhau đến chùa lễ bái. Rùa cũng vậy, mặc dù quanh năm suốt tháng không ai thấy tăm dạng  nó đâu. Mỗi năm Rùa về chùa cúng giỗ là mỗi năm Bà Cô cho người tô đậm nét chữ cũ đã mờ trên mai nó: Rùa phóng sinh. Có vậy, nó không lọt vào tay mấy chủ quán  nhậu. Tôi ngụ trong  chùa ba năm, chứng kiến đủ ba lần Rùa về cúng giỗ Sư Ông. Sau đó Rùa âm thầm ra đi lúc nào không ai biết, không ai hay. Lạ quá, tôi nức lòng kiếm nó khắp các hang cùng ngõ hẻm trong và ngoài khu vực chùa nhưng tìm hoài vẫn không được. Tôi tự hỏi: Rùa là con vật như bao con vật trên thế gian, sao con này biết chính xác ngày giỗ Sư Ông mà về, trong khi con người thì lúc nhớ lúc quên. Phải chăng giữa con vật và con người có mối liên hệ trực giác Siêu Tâm Thức qua nhiều giai đoạn tái sanh. Đức Phật dạy: “Chúng sanh trong  cõi lục đạo đều  là anh em thân thích với nhau trong vô lượng kiếp”.

o    0   oky-uc-chua-tam-bao-ha-tien

Chùa Tam Bảo Hà Tiên tọa lạc trên một vị trí thuận lợi về qui mô lẫn cảnh quan. Chùa đẹp nhất nhì miền Tây Nam Bộ thời đó. Đáng kể hơn hết, trong chùa còn giữ lại bức tường thành dày, được xây bằng mủ cây ô dước và mật đường từ thời Mạc Cửu trấn giữ Hà Tiên. Nó là phên giậu che chắn, cũng là công sự bảo vệ chính quyền họ Mạc thời hưng thịnh ở thế kỉ 17. Chung quanh chùa còn có thảm thực vật dày đặc xanh tươi, điểm xuyết vài nét chấm phá của một bức tranh thủy mặc, đó là sông, núi, thêm những ao hồ nhân tạo, trong hồ nổi lên hàng loạt sen hồng sen trắng hay rau muống, cải xà lách (ao chùa Tam Bảo, ao rau muống, ao xà lách). Tất cả cảnh vật thơ mộng  và xinh đẹp này làm cho không gian chùa Tam Bảo trở nên sinh động mà tĩnh lặng…

Tảng sáng, mặt trời chiếu ánh nắng đầu tiên lên nóc chánh  điện là khi muôn  vàn tia sáng lấp lánh xuyên qua các cành cây kẽ lá còn ướt đẫm sương đêm; cùng lúc, tiếng chim hót chào bình minh líu lo trên những tán  cây cổ thụ  rậm rạp. Vạn vật giao hòa trong  bầu không khí ấm áp. Tôi chuẩn bị đến trường, lòng nghe rạo rực phấn khởi. Ở nhà hậu tổ bước xuống thềm, tôi lóa mắt bởi tia nắng chói lọi trên hòn non bộ và tràn ngập cả sân chùa. Trước cảnh tượng thiên nhiên sáng sủa, lộng lẫy, tôi đi bộ ra khỏi chùa với một cảm giác lâng lâng thơ thới…

Ở Hà Tiên khi đất  trời sang  xuân, nhất  là sau Tết Nguyên tiêu, có một loài chim thường bay về đậu trên mấy nhánh sao trong sân chùa. Tiếng hót của nó rất lạ, khác hẳn tiếng hót thường  xôn xao ríu rít. Đằng này âm giai tiếng hót chia thành hai nhịp. Nhịp đầu mạnh, gồm ba nốt thong thả, vang xa: Tút… Tút… Tút… nghe não nuột. Nhịp sau nhẹ, thốt ra nhanh  gọn, dồn dập, kết thúc đột ngột: Tút Tút Tút, làm thót cả ruột gan. Có người bông đùa, giải mã âm thanh đó thành những từ rời rạc: “Père… Mère … Frères, tout est perdu!” (Cha… Mẹ… Anh em, tất cả đều mất). Rồi đặt cho nó cái tên ngộ nghĩnh: “Chim Mồ Côi”. Chim Mồ Côi thân nhỏ như chim sơn ca, lông màu nâu sậm. Khi hót, nó nhướng cổ lên, đuôi ngoe nguẩy theo tiếng hót. Loài chim này chỉ xuất hiện vào những tháng mùa xuân, đến khi trời đổ cơn mưa đầu mùa, nó biến đâu mất, chờ đến mùa xuân sau. Bởi thế, mỗi khi nghe Tút… Tút… Tút, tôi biết một năm đã trôi qua.

Ở chùa, thời gian như đọng lại. Tôi bấy giờ thật sự sống ẩn cư. Các bạn đồng nghiệp  nhiều khi đến thăm chơi, chẳng ai nán lại lâu, có lẽ họ không chịu nổi cảnh vắng vẻ u tịch. Họ đâu biết, suốt ngày tôi lấy việc đi dưỡng tinh thần, đọc sách và dạy học làm phương châm sống. Và tôi đang hạnh phúc trong tâm thức bình an, đúng là một sự siêu thoát lạ lùng không diễn tả được.

Mùa đông ở Hà Tiên cũng lạnh ra trò. Tôi không thể quên  mùa đông  cuối năm 1963. Từ chỗ nghỉ sau nhà hậu tổ ra khỏi chùa, tôi thấy lạnh cóng, phải cho tay vào túi quần. Trước sân chùa gần đường  lộ có cái ao thả sen hình chữ nhật. Người dân thường đến đây “xin nước” về dùng. Sáng đó, khi đến gần ao, tôi không khỏi ngạc nhiên  thấy nhiều người tụ tập trên bờ ao nhìn xuống mặt nước, để làm gì trong khi trời lạnh thế kia? Hóa ra – không ai ngờ – dưới đáy ao có mấy con rùa thật to bị lạnh phải trồi đầu lên khỏi mặt nước, bơi qua lại theo chiều dài mặt hồ, có con leo lên bờ nằm yên, nước mắt  chảy dài hai bên  khóe, rất tội nghiệp. Tôi đứng  nhìn say mê những  con rùa đang  bơi, mãi cho đến khi màn sương tan dần để lộ bốn cạnh bờ ao bằng đá, đóng rêu xanh. Vào lớp dạy học mà đầu óc tôi còn lảng vảng hình ảnh mấy con rùa và trông mau hết giờ dạy, về chùa hỏi Bà Cô. Tôi khâm phục Bà Cô. Bà biết nguồn  gốc những con rùa này khi bà còn trẻ. Đã mấy chục năm qua, nó lớn thật chậm – về kích thước – tuy đã nặng trên ba chục ký. Chúng thuộc loại rùa nước như mấy con rùa ở hồ Hoàn Kiếm. Bà Cô còn cho biết tụi rùa ở ao này thường di chuyển qua lại mấy cái ao trên xóm, dưới chân núi Bình San. Chúng di chuyển ban đêm, ít người thấy. Do tính hiếu kỳ, những  chiều sau đó, tôi thử  lên, hy vọng  gặp  rùa trồi lên mặt  nước  nhưng chỉ hoài công tìm kiếm. Ở đây có ba cái ao hình bán nguyệt  rõ lớn, phủ đầy sen. Trước ao, miễu Ông Lịnh (Mạc Cửu) uy nghi trầm mặc… Ngồi một mình bên bờ ao ngắm toàn cảnh mặt ao khi mặt trời vừa xế bóng, tôi cảm nhận nỗi bàng hoàng xao xuyến bởi sắc vàng của hoàng  hôn trải kín mặt ao, vàng lấp lánh trên những đóa sen, nụ và lá. Quanh ao, thấp thoáng  bóng người bước xuống, gò lưng xách nước. Tiếng động là cái rơi nhẹ hững đâu đó. Trời mênh mông quá. Gió mang hơi nước ủ hương sen, tỏa mát. Phút chốc, mặt trời khuất dạng  sau núi Bình San, chuông  chùa Tam Bảo mênh mang vọng lại, tiếp theo, chùa Phù Dung gần đây. Rồi chùa Lò Gạch cận sát, tiếng chuông trôi theo gió, là đà phủ mặt ao… Ếch nhái, côn trùng bắt đầu trổi giọng. Đèn nhà dân quanh ao leo lét…

Đắm mình trong hoàng  hôn bên bờ ao cô tịch của ngày tàn, kẻ xa xứ như tôi không sky-uc-chua-tam-bao-ha-tienao ngăn nổi cảm giác cô đơn buồn bã!

Phải nói rằng tôi rất tự hào được dạy học và sống ở Hà Tiên, dù chỉ mấy năm. Ở đây, thường  vào buổi chiều, tôi mải mê đi trên những con đường cũ kỹ của thời xưa xa với một tâm trạng tuyệt vời khó tả. Tôi biết rõ, mỗi bước chân tôi đi qua, còn lưu dấu đấng  tiền nhân, người đã đổ bao công sức, cả xương máu, để giữ gìn, bảo vệ Hà Tiên, mảnh đất biên thùy xa xăm của Tổ quốc, làm đẹp thêm cảnh sắc non sông nước nhà. Tôi như được hầu chuyện với các bậc anh linh khuất bóng bằng lời im lặng tuyệt đối đầy sự tôn kính và lòng biết ơn vô hạn qua hơi thở cùng nhịp chân bước…

* Sư Ông là Hòa thượng Hồng Chức Phước Ân, tông Lâm Tế đời thứ 40, viên tịch năm 1946, tháp của Sư Ông được đặt phía sau chùa Tam Bảo, cùng những tháp khác, ngày nay vẫn còn nguyên vẹn. „■

Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 144 & 145 | Bài & ảnh:  MINH  CƯỜNG

(Visited 94 times, 1 visits today)

Tags: , ,

Category: Cảnh Chùa, Hồi Ký, Minh Cường

Comments (1)

Trackback URL | Comments RSS Feed

  1. Patrice Tran says:

    Tình cờ tôi tìm hình ảnh về Chùa Tam bảo Hà Tiên ngày xưa, đọc được bài viết nầy, lòng chợt thấy bàng hoàng vì tôi nhận ra được đây là một người thầy đã từng dạy tại trường TRung Học Hà Tiên ngày xưa (mà chính bản thân tôi đã trải qua dưới mái trường nầy từ những năm 60 -70. Tôi nghĩ có lẻ tác giả là Thầy Nguyễn Lê Hùng dạy Pháp văn ngày xưa (hoặc thầy Hồ Quang Điệp day Anh văn ngày xưa). Sau khi phổ biến bài viết nầy trên trang face Book cá nhân được các bạn học ngày xưa ở Hà Tiên bàn luận thì chắc chắn đến 99% tác giả chính là Thầy Nguyễn Lê Hùng (theo nhận xét của các bạn Trương Thanh Hùng,Nguyễn Thị Điệp, Huỳnh Thị Sáu Hà Tiên). Đau buồn thay ngày gặp lại tin tức bài viết của thầy Hùng thì thầy cũng đã lìa xa chúng ta từ nhiều năm nay sau khi thầy trở về Sài Gòn dạy học. Xin thành kính nghĩ đến thầy và xin các bạn học sinh trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa hãy đến đọc bài viết của thầy để tưởng nhớ công ơn dạy của Thầy ngày xưa. (học sinh ngày xưa của thầy: Trần Văn Mãnh)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *