Trải nghiệm Lamrim-Trình tự Đường tu Giác ngộ

| 23/05/2015 | 0 Comments

Bài & ảnh: HỒNG ĐIỆ P

trai-nghiem-LamrimHoàn tất cuộc hành hương ở Ngân Sơn, nghĩ thế nào tôi lại hủy vé máy bay chiều về Việt Nam và tiếp tục hành trình sang Nepal. Tôi thuê một chiếc xe Jeep chung với một anh bạn người Thụy Sĩ gặp ở Tây Tạng. Tuy ở Tây Tạng chỉ vài tuần, song khi xe lăn bánh tới vùng biên giới Tây Tạng – Nepal, lòng tôi xao động một cách khó tả. Tây Tạng đã là một phần máu thịt trong tôi và khi phải rời xa nó, tôi thấy bịn rịn lạ thường. Dường như tôi đã phải chia xa với quê hương thứ hai thiêng liêng của mình vậy. Thiên nhiên Tây Tạng hoang dã, phóng khoáng cũng như con người Tây Tạng, không chịu được sự gò bó khiên cưỡng. Ở họ có một đặc trưng không thể trộn lẫn được với người Hán và một lòng mộ đạo sâu sắc đối với vị lãnh tụ tinh thần, Đức Đạt-lai Lạt-ma.

Chuyến đi bằng ô-tô sang Nepal rất suôn sẻ. Tôi hỏi anh bạn người Thụy Sĩ sẽ làm gì ở đây. Anh nói sẽ tham dự khóa học một tháng tại một tu viện ở Kathmandu. Tính thích học, tôi tò mò hỏi cụ thể về khóa học. Anh gửi qua máy tính cho tôi xem nội dung và nói đã hết hạn đăng ký và lớp đã đầy kín. Song anh gợi ý tôi cứ thử lên tu viện hỏi trực tiếp xem sao.

Mấy hôm sau, tôi và anh lên tu viện hỏi thăm. May quá trời xui đất khiến thế nào mà lớp vẫn còn chỗ. Thế là tôi đăng ký luôn, không hề biết đây là những bước đầu tiên dẫn tôi vào thế giới Mật tông đầy huyền ảo và lung linh sắc màu, cũng như những góc tối của nó. Tôi gặp khó khăn về tài chính do trong người chỉ có thẻ tín dụng American Express mà ở Kathmandu không có một cây rút tiền tự động (ATM) nào chấp nhận thẻ Amex này. Nhờ có anh bạn người Thụy Sĩ mà cuối cùng tôi cũng xoay xở được đủ số tiền cần thiết cho việc học tập.

Tên chính thức của khóa học là Nhập môn Trình tự Đường tu Giác ngộ (Lam Rim – Stages of the Path) nhưng thường được gọi đơn giản là khóa học tháng 11 (November course), vì nó diễn ra vào tháng 11 hàng năm, bắt đầu từ năm 1971 tại tu viện Kopan, Kathmandu. Trình tự Đường tu Giác ngộ này được Tổ dòng Cách lỗ (Gelug) là Lạt-ma Tông-khách-ba (Tsongkhapa) soạn dựa trên cuốn Bồ đề Đạo đăng (Bodhipathapradīpa) thế kỷ thứ 11 của Ngài A-đề-sa (Atisha hay Nhiên Đăng Cát Tường Trí: 982-1054). Tu viện Kopan tu tập theo trường phái Cách-lỗ của Tổ Tông-khách-ba, mà hiện tại người đứng đầu là Đức Đạt-lai Lạt-ma.

Khóa học kéo dài một tháng, từ đầu tháng 11 đến đầu tháng 12. Do đăng ký chậm, hết phòng đơn nên tôi phải ở tập thể phòng tám người. Không có giường mà mỗi người ngủ bằng túi ngủ của riêng mình. Đa số là người phương Tây ở những nước phát triển như Mỹ, Đức, Pháp, Hà Lan, v.v. nên đối với họ ở như vậy là một cực hình. Trái lại, tôi thấy vô cùng thích thú vì được hòa nhập vào một tập thể đa sắc màu, đa văn hóa, tham dự một khóa học hoàn toàn mới lạ. Một cảm giác vui sướng lạ lùng lan tỏa trong tôi, và tôi quên hết những lo âu, muộn phiền, dằn vặt về công việc, cơm áo gạo tiền. Bây giờ nghĩ lại, cuộc sống này vẫn giống như trong một giấc mơ đẹp đối với tôi.

Thời gian biểu hàng ngày bắt đầu từ 5 giờ sáng với việc lạy phủ phục (prostration) trước 35 vị Phật và bảy vị Phật Dược Sư. Tuy mới song tôi cố gắng hoàn thành 100 lạy. Không hiểu sao các động tác này đến với tôi rất tự nhiên, và tôi lạy thuần thục giống như một người Tạng thực sự vậy. Lớp học hơn 250 người song không phải ai cũng dậy được sớm và đủ khỏe để hoàn thành 100 lạy. Ý nghĩa của việc lạy phủ phục này là nhằm bày tỏ sự kính trọng đối với chư Phật và Bồ-tát, đồng thời để người tu trở nên khiêm nhường hơn.

Sau buổi lạy, mọi người tập trung vào tiết thiền buổi sáng. Đây là lần đầu tiên tôi được giới thiệu và thực hành phương pháp thiền tong-len (cho và nhận). Theo phương pháp thiền này, bạn hình dung mình hít vào mọi thứ dơ bẩn, xấu xa, mọi khổ đau của chúng sinh, và sau đó thở ra những gì tốt đẹp nhất của bản thân, hạnh phúc và thành công. Tập thiền theo phương pháp này trong thời gian dài có rất nhiều tác động như: làm giảm sự ích kỷ, tăng tính từ bỏ, tạo nghiệp tốt, xây dựng và phát triển tình yêu thương, bồ đề tâm.

Trong suốt một tháng học tập, mọi người hầu như giữ im lặng cả buổi sáng. Bên cạnh việc học, mọi người còn phân công nhau làm công đức (karma yoga) như quét dọn, lau chùi tu viện, bảo tháp; dọn nhà vệ sinh; rửa bát đĩa, v.v… Không chỉ đơn thuần là làm công đức, các thầy cô còn dạy kết hợp cả phương pháp chuyển hóa; ví dụ như khi quét nhà, mỗi nhát chổi bạn lại nghĩ rằng mình đang quét đi những ý nghĩ tiêu cực trong đầu. Tương tự như vậy khi lau chùi, dọn rửa, bạn nghĩ như đang dọn dẹp chính con người mình vậy. Chỉ vài ngày tu tập như vậy tôi đã thấy trong người nhẹ nhõm hẳn.

Trọng tâm của khóa học là nhập môn Trình tự Đường tu Giác ngộ. Lần đầu tiên tôi được biết đến các khái niệm như Tứ diệu đế, Vô thường, Hư không, Mật chú,v. v. Tôi đã đọc về các khái niệm này bằng tiếng Việt trước đó nhưng phải tới khi nghiên cứu chúng bằng tiếng Anh, tôi mới hiểu rõ ràng hơn. Tôi đặc biệt thích khái niệm về hư không và mua vài cuốn sách chuyên về đề tài này. Tuy nhiên càng nghiên cứu tôi càng thấy khó, đặc biệt là khó thực hành vì nó cao siêu, vi diệu quá! Cho đến tận bây giờ tôi vẫn bị nó cuốn hút đặc biệt nhưng tôi hiểu rằng để ngộ được tính Không, người tu ngoài chăm chỉ tu tập còn cần phải có công đức rất lớn tích lũy từ nhiều đời nhiều kiếp.

Trình tự Đường tu Giác ngộ trình bày cụ thể về luân hồi và chúng sinh ở mỗi tầng luân hồi. Cũng tại đây tôi hiểu rõ hơn sự khác biệt giữa Phật giáo và các tôn giáo khác, đặc biệt là Thiên Chúa giáo, và rằng các bậc cao siêu như Phạm Thiên, vẫn nằm trong vòng luân hồi sinh tử. Nếu muốn được giải thoát hoàn toàn, không có con đường nào khác ngoài theo Phật. Mặc dù học rất nhiều khái niệm phức tạp, song tôi lại nhập tâm và xúc động nhất khi nghe giảng về “cha, mẹ”. Tất cả các chúng sinh đã từng là cha, mẹ của chúng ta không kiếp này thì kiếp khác. Khi nghe giảng về công lao của cha mẹ, không hiểu sao tôi cứ khóc ròng.

Từ bé tôi đã là một đứa trẻ khó nuôi. Ban ngày khi đi nhà trẻ thì tôi ngủ, ban đêm lại thức quấy mẹ, bắt mẹ phải bế đi rong mới nín khóc. Mẹ tôi bốn năm sinh ba đứa con, lại vào thời bao cấp, nên vất vả vô cùng. Lúc học, hình ảnh mẹ tần tảo nuôi ba chị em chúng tôi cứ như những thước phim quay chậm tái hiện trong đầu, làm tôi không thể cầm được nước mắt. Được cái sau này tôi chăm chỉ học hành, luôn là học sinh giỏi lớp chọn, lớp chuyên nên cũng bù đắp được quãng thời gian vất vả ấy của mẹ.

Trong một buổi giảng đặc biệt, Đại sư Lạt ma Zopa Rinpoche, người sáng lập ra Qũy Bảo tồn Truyền thống Đại thừa (Foundation for the Preservation of the Mahayana Tradition – FPMT), bất chợt nhìn thẳng vào tôi và nói “Không có cái gọi là hạnh phúc thật” (There is no real happiness). Thế là tôi bật khóc ngay lúc ấy, mặc dù chưa hiểu hết ý nghĩa của câu nói ngắn gọn này. Cũng giống như hầu hết mọi người, tôi luôn thấy mọi thứ là có thật và luôn đi tìm kiếm những điều mới mẻ. Trong công việc, tôi thường được khen là một nhân viên sáng tạo. Và tôi rất tự hào về khả năng này của bản thân. Cảm giác tự hào này cũng bình thường nếu không đi kèm với nó là thái độ không coi trọng những nhân viên “kém sáng tạo” khác trong cơ quan của tôi. Một phần là do cách quản lý của sếp không chuyên nghiệp, song nhìn từ quan điểm Phật giáo, tất cả là do bản thân gây ra.

Khóa học giúp tôi nhìn nhận lại tất cả, từ cá nhân, gia đình đến công việc, xã hội. Tôi nhận thấy mình có thói quen rất xấu là hay cường điệu, phóng đại sự vật hiện tượng. Nếu tốt tôi thường nghĩ nó hoàn hảo, còn xấu thì tôi gán cho mức độ tệ hại nhất, không chơi hoặc không dùng. Ở tôi thiếu cái gọi là “trung dung” (the middle way). Tính cách này khiến tôi gặp không ít chướng ngại trong cuộc sống và công việc. Khi chưa học Phật giáo, tôi đổ những khó khăn này cho người khác, và cho rằng mình không có lỗi gì cả.

Điều quan trọng nhất đối với người đang trong quá trình tu tập là được ở gần thầy. Giá mà từ sau khóa học tôi có cơ hội được ở gần với các thầy thì chắc chắn sẽ tốt hơn nhiều. Từ những việc đơn giản như việc hành trì hàng ngày, đọc mật chú, v.v. rất quan trọng phải có thầy ở bên. Nhất là đối với việc đọc mật chú. Lúc đầu tôi tưởng đọc đơn giản, nhưng về sau này trải qua nhiều sai lầm, tôi mới thấy nó khó đến mức độ nào. Đọc mật chú đòi hỏi độ chuẩn xác cao, từ âm lượng cho tới phát âm. Chỉ cần sai lệch một chút thôi sẽ mang lại hậu quả tai hại. Do không được ở gần các thầy và bắt đầu cảm thấy các tác động tiêu cực nên tôi quyết định dừng việc hành trì và đọc mật chú. Giờ tôi thường chỉ nghe tụng kinh và đọc cầu nguyện hàng ngày. Mặc dù công nghệ phát triển và bạn có thể dùng điện thoại hoặc email để hỏi các thầy, song nó không thể thay thế được cho lợi thế về khoảng cách địa lý.

Sau khi tham dự khóa học này, tôi hiểu hơn về các khái niệm Phật giáo trong tiếng Việt. Giờ tôi đã có thể đọc và ngộ phần nào các bộ kinh quan trọng của Phật giáo như kinh Chánh pháp, kinh Pháp hoa, kinh Kim Cương, kinh Bát nhã, v.v. Càng đọc, tôi càng thấy Phật giáo rất khoa học, cõi Phật là nơi đẹp đẽ và hoàn hảo nhất và mong ước có điều kiện để sau này được học tập và phụng sự Phật pháp. Cảm ơn khóa học Trình tự Đường tu Giác ngộ và các thầy, cô đã giảng dạy, dẫn dắt tôi vào cõi chân lý. ■

Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 175

(Visited 42 times, 1 visits today)

Tags: , ,

Category: Hồi Ký, Hồng Điệp

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *