Đoạn đường mười năm

| 20/02/2016 | 0 Comments

NGUYỄN TƯỜNG BÁCH ++

doan-duong-10-nam

Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo đến với độc giả đã vào năm thứ mười, một đoạn đường dài so với khả năng nhỏ bé của mình. Nhất là khi tập san này tồn tại trong một thời kỳ đầy biến động của dân tộc. Mười năm kể ra không dài trong lịch sử. Thế nhưng trong thời kỳ vừa qua, dân tộc chúng ta đã trải qua một chặng đường trải nghiệm đáng suy nghĩ.

Tiến tình của dân tộc không nằm ngoài quĩ đạo chung của thế giới. Hai đặc trưng của thập kỷ vừa qua trên thế giới là sự biến động dữ dội về kinh tế tài chính và ảnh hưởng của nền công nghệ thông tin trên mọi hoạt động của con người. Thứ nhất, trong thời gian đó các nền kinh tế trên thế giới đã lộ ra tất cả ưu và khuyết điểm, cho thấy hết giới hạn và khuyết tật của hệ thống chính trị và kinh tế của mình. Một số nước phương Tây, vốn thuộc khu vực mạnh của nền kinh tế thị trường, đã tiến tới bờ vực của sự phá sản. Khả năng đổ vỡ của đồng euro là một bóng ma luôn đe dọa các nước Tây Âu. Bên cạnh đó Trung Quốc vươn lên, trở thành lực lượng kinh tế nhất nhì thế giới. Thế nhưng cái giá mà họ phải trả là một môi trường sống hầu như cạn kiệt và sự phân hóa giàu nghèo đã lên mức khủng khiếp.

Đặc trưng thứ hai của thập kỷ qua là sự chuyển biến quá nhanh chóng của đời sống dựa trên công nghệ thông tin. Trước đây khoảng mười năm hẳn không ai ngờ hệ thống internet có thể thay đổi cuộc sống, hoạt động của con người một cách sâu sắc như hiện nay, trên mặt cá thể cũng như vĩ mô của toàn thể xã hội. Phương cách vận hành trong một phạm vi to lớn như toàn xã hội, hay nhỏ hơn trong các công ty, thậm chí sinh hoạt trong gia đình đã khác trước một cách bất ngờ.

Với tốc độ phát triển của ngành tin học và với tính chất liên kết ngày càng rộng mở giữa các quốc gia và các tập đoàn kinh tế, khuynh hướng toàn cầu hóa nói trên sẽ ngày càng tăng tốc.

Nước Việt Nam chúng ta không hề nằm bên lề của sự vận hành chung, ngược lại, là nước nằm trong một khu vực phát triển nhanh nhất trên thế giới. Việt Nam là một quốc gia không hề nhỏ, đứng hàng 13 về dân số1, chúng ta đang hội nhập và chịu sự tác động mạnh mẽ của nền kinh tế và chính trị toàn cầu. Vừa nằm trong khối ASEAN, vừa đang đàm phán để gia nhập Hiệp định Đối tác Kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP), nước ta có vị trí đáng kể của mình trong khu vực. Mặt khác, do các tồn tại lịch sử và vị trí địa lý, Việt Nam chịu một tác động mạnh mẽ từ Trung Quốc. Các chủ trương chính sách của quốc gia to lớn phương Bắc này dù muốn dù không sẽ đóng một vai trò then chốt trong sự phát triển của Việt Nam, nhất là khi nước này đã trở thành siêu cường trên thế giới.

Vừa hồi sức sau cuộc chiến tranh, vừa không chuẩn bị về tri thức lẫn kinh nghiệm trước sự vận hành mới mẻ của làn sóng toàn cầu hóa, nước Việt Nam chúng ta hoàn toàn rơi vào thế bị động. Hơn thế nữa, lịch sử để lại một di sản nặng nề: chúng ta nằm trong một mối liên kết với người láng giềng phương Bắc, một mối liên kết quá chặt chẽ do chính trị, kinh tế và văn hóa để lại. Đã đành lịch sử là do con người tạo ra nhưng khi nó đã hình thành thì lại trở thành tiền đề khách quan cho những tiến trình sau đó. Việt Nam của thế kỷ 21, nói cho cùng, không hề tách rời khỏi mối liên hệ “bạn thù” sau Thế chiến thứ hai, trong những năm 40 của thế kỷ trước.

Ngày nay nước ta đang nằm trong một tình trạng đáng bi quan hơn lạc quan. Nền kinh tế của chúng ta nhỏ yếu so với khu vực, đời sống người dân bấp bênh, sự cách biệt giàu nghèo ngày càng to lớn. Việt Nam như một con thuyền đang bị sóng gió xô đẩy ngả nghiêng. Chúng ta thiếu nhất quán trong việc định hình một trật tự kinh tế nhất định, một mặt vừa kiên trì

tính “định hướng”, mặt kia lại mong cầu bên ngoài thừa nhận tính “thị trường”. Song song, Việt Nam nằm trong vòng ảnh hưởng của siêu cường phương Bắc, một kẻ láng giềng vô cùng phức tạp, một mặt không muốn ta thực sự giàu mạnh, mặt kia cũng không muốn ta rơi vào ảnh hưởng chính trị của đối thủ.

Những nghịch lý nói trên đang đưa nước ta vào một tình trạng có nhiều điểm tối hơn điểm sáng. Nền kinh tế là một dạng hình tiền tư bản, trong đó sức làm việc người dân bị vắt kiệt, quyền lợi lao động và xã hội của người dân không được đảm bảo. Đồng thời Việt Nam là một xã hội được lèo lái bởi một tầng lớp có tiền và có quyền, tập hợp quanh những “nhóm lợi ích” vô hình. Bên trong, chúng ta thiếu một đường lối nhất quán, giàu kinh nghiệm, nhân văn. Bên ngoài, chúng ta không có một chỗ dựa thực sự đáng tin cậy, nói ai cũng là bạn nhưng không có bạn nào thân thiết cả.

Từ đó, hệ quả đáng quan ngại nhất của nước ta là tình trạng đạo đức văn hóa ngày càng xuống cấp, một điều mà tất cả các mạng truyền thông đều thừa nhận. Hai đặc tính rõ nhất của tình hình đó là tính dối trá và nạn bạo lực đang lan tràn trong xã hội, kể cả trong lĩnh vực giáo dục, y tế. Nếu tiếp tục tình trạng này, người có tâm sẽ tự hỏi, đất nước ta sẽ đi về đâu?

Rõ rệt là đất nước chúng ta đang cần một sự đổi mới, như đã đổi mới trong năm 1986 của thế kỷ trước. Đây là một sự nghiệp to lớn, liên quan đến toàn bộ phương cách điều hành của cả quốc gia. Nội dung của bài này sẽ chỉ tự giới hạn trong lĩnh vực văn hóa, một lý do là văn hóa chính là cơ sở của một sự đổi mới bền vững.

Mặc dù kinh tế và chính trị luôn luôn là“mặt tiền”của sự phát triển của một nước, nhưng văn hóa là nền tảng cơ bản, là giá trị nội tại của mọi sự phát triển. Joseph Joubert (1754-1824), nhà văn hóa Pháp đã nói: “Văn hóa không phải là điều thấy được, mà là sợi dây buộc tất cả lại với nhau”.“Tất cả”của Joubert là mọi dạng hoạt động xã hội, từ ý thức hệ chi phối cả nước đến thái độ hàng ngày của con người trong gia đình, trên đường phố. Trong sự phát triển vũ bão của khoa học kỹ thuật thì văn hóa là những giá trị bền vững nhất của loài người, thậm chí nó giữ vững tính người trước sự cám dỗ của các khả năng do tri thức mới mẻ đem lại. Văn hóa là “tình trạng nội tại”, nói như Joseph Chamberlain (1836-1914)2, chính khách nổi tiếng người Anh, trong câu “Văn hóa không liên quan gì đến kỹ thuật và kiến thức khoa học, nó là một tình trạng nội tại”. Khoa học kỹ thuật phát minh ra bom nguyên tử nhưng trong trường hợp nào thì ta mới được sử dụng nó? Khoa học kỹ thuật cho phép nhân bản con người nhưng liệu ta có nên? Đó là những vấn đề thuộc “tình trạng nội tại”.

Vì thế, đổi mới đất nước là đổi mới trong tư duy, trong chủ trương xây dựng một xã hội như thế nào, trong quan niệm về vị trí và quyền lợi của con người trong xã hội đó. Vấn đề này không hề mới mẻ tại Việt Nam, đã bắt đầu với Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh. Trong nửa thế kỷ qua, đã có nhiều luận điểm và chủ trương được đề ra và áp dụng. Thế nhưng trước tình trạng văn hóa ngày càng suy thoái, chúng ta phải bình tĩnh xét lại. Năm 1986 chúng ta đã xét lại và đổi mới về kinh tế và nhờ đó mà có một bước phát triển ngoạn mục. Thế thì đầu thế kỷ 21, nếu chúng ta cũng xét lại và đổi mới về tư duy điều hành đất nước thì thiết nghĩ điều đó hoàn toàn hợp lý.

Những điều nói trên thực ra không mới lạ gì cả trong truyền thông cả nước trong những năm qua, thậm chí chúng xuất hiện ngày càng nhiều, ngày càng bức xúc. Thế nhưng tìm ra cho ra một lối đi cho quốc gia trong hoàn cảnh này hoàn toàn không đơn giản. Khó hơn nữa khi ta nghĩ đến việc thực hiện một điều gì mới mẻ trong một xã hội đã quen những con đường mòn của mình. Tuy vậy, như mọi sự trên đời, khi “nhân duyên” hội tụ đầy đủ thì sự thay đổi sẽ diễn ra, như ta đã chứng kiến về mặt kinh tế.

Trong phạm vi của tạp chí Văn Hóa Phật Giáo, ta tự hỏi nền văn hóa Phật giáo Việt Nam sẽ làm được gì trong bối cảnh này? Lịch sử cho thấy đã lắm lần Phật giáo đóng một vai trò tích cực cho xã hội.

Một quan niệm thuộc tính chất cốt tủy của đạo Phật là tôn trọng quyền tự do tư duy của con người, không ép buộc người khác phải suy nghĩ như mình, như trong kinh Kalama3 cho thấy. Trong kinh, Phật khuyên con người nên tự mình kiểm tra, xét nghiệm, “như người thợ vàng dùng lửa thử vàng” mọi giáo điều trước khi trao niềm tin cho nó, kể cả đạo lý của chính Ngài. Nếu sau khi đã thử nghiệm và thấy nó “lợi ích cho mình và cho người” thì hãy tin vào nó. Đạo Phật hoàn toàn xa lánh với phương pháp sử dụng bạo lực, ngược lại dùng nhận thức để xử lý vấn đề, một điều nghe qua thì hiển nhiên nhưng ngày nay không phải luôn luôn phổ biến tại nước ta. Triết gia Hy Lạp cổ đại Plato (427-348 trước Công nguyên) cũng đã từng nói “Văn hóa là sự chiến thắng của lòng tin đối với bạo lực”.

Cũng từ thời cổ đại, Phật cũng đã nêu tấm gương về dân chủ của xứ Licchavi và cho thấy nếu dân chúng được hỏi ý kiến rộng rãi thì trong nước sẽ “đoàn kết” hơn4. Lạ thay, cách đây 25 thế kỷ, trong một thời đại thuần túy quân chủ mà Phật giáo đã nêu khái niệm dân chủ trong giáo lý của mình. Ta dễ dàng nhớ đến ý niệm dân chủ cũng đã hình thành trong thời cổ đại Hy Lạp và thấy rõ dân chủ là một giá trị chung của loài người mà ngày nay nó đã trở thành nguyên lý chung của tất cả hiến pháp của mọi quốc gia.

Mục đích tối hậu của đạo Phật là giải thoát, tức là giải phóng con người ra khỏi vô minh và ràng buộc. Dĩ nhiên đây là mục đích vô cùng sâu xa và mang đậm nét tâm linh, xa hơn hẳn cuộc sống xã hội hàng ngày. Thế nhưng điều đáng nói là Phật giáo lấy con người làm chủ thể của mọi nỗ lực. Phục vụ con người “là phục vụ

chư Phật”, đó là câu nói ta thường nghe. Thế nên tính chất trung tâm của đạo Phật trong tầm nhìn xã hội là tính nhân văn, lấy hạnh phúc cao đẹp của con người làm cứu cánh cho mọi hoạt động chính trị và kinh tế.

Từ những điều đã nêu trên, ta có thể xác lập ba tính chất của Phật giáo trong viễn kiến về một sự nghiệp văn hóa cho dân tộc. Đó là tự do, không giáo điều và xa lánh bạo lực; dân chủ, tôn trọng ý kiến của quần chúng và nhân văn, lấy con người làm đối tượng phục vụ.

Những tính chất trên nghe qua có vẻ hàn lâm và lý thuyết nhưng nếu xét trong góc độ văn hóa, trong “tình trạng nội tại” của một dân tộc, chúng quả thực xứng tầm và chính là cơ sở cho một sự chuyển mình to lớn của dân tộc. Các nước phương Tây cũng luôn luôn khẳng định lại những nền tảng có tính chất ý thức hệ tương tự như thế và cũng đến với kết luận không xa với những điều vừa nói. Cả “siêu cường” Trung Quốc cũng đi tìm cho mình một nền tảng văn hóa, sau khi cơ sở cũ đã bị đào thải. Họ phát hiện lại, theo cách của họ, ý thức hệ Khổng giáo và bắt đầu đánh bóng cho một nền trật tự chính trị cũ xưa, được tân trang và gò ép với một chủ ý chính trị dễ nhận biết. Họ còn bày biện thêm những Viện Khổng Tử, thiết lập khắp thế giới để phục vụ ý đồ quyền lực của họ.

Đầu thế kỷ thứ 21, ta chứng kiến một trào lưu mới: các quốc gia xác lập lại hay củng cố thêm những cơ sở văn hóa của chính mình. Tất cả đều đứng trước một yêu cầu vô cùng bức thiết, đó là phải minh định những giá trị cơ sở cho toàn xã hội, chúng là “sợi dây buộc với nhau mọi sự” vì “mọi sự” diễn ra quá nhanh, quá dễ vuột ra tầm kiểm soát của con người.

Tại Việt Nam tình hình càng bức xúc hơn nữa. Xác lập một cơ sở văn hóa và dựa trên đó mà tổ chức lại xã hội và nền chính trị là khát vọng chung của toàn thể dân tộc. Trong tình hình đó giáo lý Phật giáo Việt Nam có thể đóng một vai trò quan trọng, xứng đáng với danh nghĩa của mình, cũng như trong lịch sử đã từng.

Tạp chí bé nhỏ Văn Hóa Phật Giáo hoạt động gần mười năm qua cũng chỉ vì lẽ đó và nếu có tiếp tục phục vụ cho mười năm tới đây nữa cũng chỉ vì lẽ đó.

Chú thích:

  1. Về mặt dân số, Việt Nam đứng sau Philippines và trước Đức.

  2. Hai con trai của ông là Neville Chamberlain, Thủ tướng Anh và Austen Chamberlain, Ngoại trưởng Anh và khôi nguyên giải Nobel về hòa bình.

  3. Kinh Kalama, thuộc Tăng Chi Bộ kinh, trong đó Phật khuyên ta hãy tin tưởng điều gì sau khi đã tự mình kiểm chứng sự thực của nó bằng nhiều phương pháp, bác bỏ niềm tin giáo điều và mù quáng.

  4. Xem thêm trong Maha Parinibbana Sutta (Kinh Ðại Bát Niết Bàn, D. II, 72-66). Đáng chú ý là bài “Có học thuyết chính trị trong truyền thống Phật giáo hay không?
    http://www. tuvienlienhoa.net/KinhDien/uni/u-vbud/vbpha489.htm.

Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 193-194 Xuân

(Visited 44 times, 1 visits today)

Tags: , ,

Category: Nguyễn Tường Bách, Tản mạn

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *