Khói bếp chiều quê

| 20/01/2015 | 1 Comment

khoi-bep-chieu-que

Tôi về nhà vào một chiều cuối tháng. Con đường bờ ruộng cỏ xanh lấn lối đi và những vũng nước còn đọng lại sau cơn mưa. Ngôi nhà yên tĩnh quá. Vừa vào đến ngõ hai con chó nhỏ chạy ra vẫy đuôi mừng lỡn cỡn, chúng vồ hai chân trước lên như muốn ôm lấy tôi. Ngôi nhà vẫn vậy, mái ngói thâm nâu, sân nhà còn ẩm mốc màu rêu, cửa để trống, có tiếng động phát ra từ dưới nhà. Mái nhà sau một làn khói bếp bốc lên. Tôi ra hiệu cho hai chú chó im lặng, chúng nằm hờ xuống đất vẫy đuôi rồi chạy nhảy theo tôi vào nhà. Tôi nhẹ nhàng bước vào nhà, qua cánh cửa rồi ra chòi bếp. Nhìn vào căn bếp thấy mẹ tôi đang lom khom nấu nướng. Tôi chưa kịp lên tiếng thì mẹ chợt quay lại; nhìn thấy tôi, ánh mắt bà hiện lên niềm vui. Tôi về đột ngột không báo trước làm mẹ bất ngờ.

Căn bếp của mẹ vẫn như ngày nào, ánh lửa đang bập bùng, ngọn lửa thổi lên làn khói bồng bềnh. Làn khói bốc lên nóc bếp như làn sương mỏng manh, vấn vương trên đọt cau, được gió đưa đi xa dần, lan tỏa. Trời chiều dần tối, mẹ đang nêm nếm cho nồi canh chua lá giang. Mắt mẹ mờ nên phải đứng cúi xuống nhìn nồi canh, một tay mẹ cầm chiếc lá dừa đang cháy lên soi. Chiều quê yên bình. Trời buông gió nhẹ và mây lưa thưa chầm chậm trôi. Đàn cò trắng bay nhịp nhàng, chúng xếp thành hàng giống như một cánh chim vỗ cánh giữa khoảng không bao la. Tôi lại nhớ về ngày xưa, kỷ niệm về chẳng đầu chẳng đuôi nhưng những hình ảnh vẫn rõ ràng dù đã lâu tôi chẳng nhớ đến. Thuở bé, sáng đi học chiều chăn trâu. Mỗi khi tắt nắng trời chiều, bụng đói và tay chân mỏi rã, bọn trẻ chúng tôi hướng nhìn về xóm nhà khuất lẫn trong rừng dừa. Cùng trông về xem những làn khói bếp đã lên chưa. Mỗi khi làn khói thấp thoáng trên đọt dừa và từ từ tan biến thì chúng tôi vội vã gọi nhau lùa trâu về. Mỗi đứa mỗi nhà, đứa nào cũng có một bữa cơm chiều đang đợi, ở đó có nhiều thứ cho cái bụng đang đói. Nghĩ về căn bếp nhà mình đứa nào cũng có thứ riêng để khoe, đứa khoe nồi cá kho ngon lủng nồi, đứa khoe nồi canh thơm phức, có đứa chỉ khoe củ sắn lùi thôi mà nghe thấy cũng thèm.

Những cảm nhận đầu tiên của tôi về căn bếp là sự ấm áp mỗi sáng chiều và làn khói bay bay cay đỏ mắt. Ngày còn bé bỏng, mẹ vừa chăm tôi vừa nấu cơm, tôi thấy mẹ ra khỏi căn bếp với trán lấm tấm những giọt nước và bàn tay mẹ nóng ran da thịt trẻ nhỏ. Khói bếp làm mắt tôi cay xòe, tôi bật khóc và mẹ lại phải dỗ dành, tôi đâu biết rằng làn khói ấy cũng làm mắt mẹ cay cay. Bây giờ căn bếp chẳng thể cũ kỹ hơn được nữa, vẫn “đơn sơ củi nỏ – bộn bề nồi niêu” (Trần Hoàng Vy). Có thay đổi cũng chỉ là đống tro nhiều thêm mỗi ngày. Đôi đũa bếp ba mới róc ngày nào giờ đã mòn hết nửa. Mẹ tôi vẫn ngày ngày khom lưng nhóm lửa khi những người phụ nữ trong xóm nấu ăn bằng nồi điện, bếp ga. Những ánh lửa củi, những bếp lò rơm, lò trấu dần vắng bóng. Những đứa bé chẳng còn được ngồi tựa mình vào lòng mẹ, cảm nhận hơi ấm lửa than khi chiều đông gió về. Căn bếp mẹ vẫn lên lửa đều đều, những thanh củi cháy giòn tan, ánh lửa sưởi ấm căn bếp, hơi ấm lan tỏa khắp căn nhà. Ba mẹ lấy nhau bao nhiêu năm vẫn gắn bó và yêu thương không biết có phải vì ánh lửa sớm tối ấy không? Chẳng biết nữa nhưng tôi vẫn thấy những bữa cơm ba tấm tắc khen những món ăn mẹ nấu, những món ăn khiến ba đi làm về đến nhà nghe mùi hương lại thêm đói bụng cồn cào. Ánh mắt mẹ nhìn thấy mấy bố con ăn ngon cơm lại cười mãn nguyện. Niềm vui của mẹ chỉ đơn giản vậy thôi, niềm vui ấy qua bao nhiêu năm chẳng đổi thì có lẽ không hề đơn giản.

Căn bếp ba xây từ cái thời ba mẹ mới ra ở riêng. Mái bếp ngói đã ngả màu thâm đen và trũng xuống vì nắng mưa. Mặt dưới mái bếp là một lớp màu đen nhám xù xì. Lớp bồ hóng cứ dày thêm từng ngày. Phía trên vách tường nơi những làn khói men theo cũng đã một màu đen kịt. Phía trên căn bếp cái giàn tre ba bắc ngang cũng đen một màu. Cái giàn tre để ba hóng những cái cán rựa, cán cuốc,… những sợi tơ nhện bồ hóng bám mỗi ngày một nhiều, mỗi ngày một dài xuống. Trên giàn tre ba treo những đùm mực khô mà mỗi bữa nó cứ vơi đi một ít, nhưng những bị hạt giống và xâu hoa vạn thọ là vẫn còn nguyên. Ba thấy kỳ lạ chẳng biết vì sao mất đi, những lúc ba hỏi anh em tôi lại vờ như  không biết rồi vờ ra sau nhà cùng cười tủm tỉm. Căn bếp của mẹ làm mọi thứ thành màu đen. Ông táo đen, tro đen, khói đen, đít nồi-xoong-chảo cũng đen một lớp dày. Muội than đen quyện cùng dầu mỡ cho ra cái chất vừa bẩn vừa nhờn nhờn dễ dính và chùi rửa mãi chẳng sạch. Lũ trẻ chúng tôi có lúc chơi trò đánh tù tì quẹt lọ, chơi dại hết chỗ nói, đến lúc vội vã đến trường mang cái mặt lem đen như vết bầm. Căn bếp củi chất ngổn ngang, bó lá dừa làm mồi lửa cũng rối tèm nhem. Mẹ tôi dùng củi dừa nấu bếp. Mỗi khi tàu dừa rụng mẹ lại róc lá rồi chẻ bẹ ra thành từng mảnh nhỏ phơi khô chất thành đống dành cho mùa mưa. Những ngày mưa củi dừa thấm nước, mẹ nhóm lửa vất vả lắm mới cháy. Làn khói đen phủ lấy dáng mẹ gầy, nhuộm bạc mái tóc mẹ theo năm tháng.

Tôi lại nhớ về những bữa cơm chung cả nhà, ba mẹ ngồi nhìn các con ăn cơm ngon lành với bao nhiêu tình thương và niềm hy vọng. Bữa cơm cuối ngày tôi lại khoe những điểm mười ở trường, mẹ dành riêng cho tôi một trái bắp lùi hay con cá nướng. Nhớ ngày giỗ ông nội, những cô dì thím bác lại đến giúp mẹ chuẩn bị mâm cỗ. Bếp rộn ràng tiếng nói tiếng cười, tiếng lửa giòn tan như vui reo. Căn bếp giúp mẹ nấu nồi bánh tét ngày Tết. Năm nào cũng vậy, mẹ tỉ mỉ gói từng chiếc bánh và lại thức trắng đêm bên bếp chờ bánh chín. Ngày xuân có những làn hơi nước se lạnh trong đêm và hay mưa phùn, chẳng rét nhưng cũng đủ làm bàn tay gầy guộc của mẹ tê lạnh. Sớm thức giấc, cái lạnh còn vương lại trong màn sương, mẹ thức dậy nhóm bếp lửa bắt ấm nước pha trà, cả nhà lại vây quanh nhâm nhi tách trà và bắt đầu ngày mới với bao công việc còn dang dở.

Giữa thị thành văn minh, phố xá nhộn nhịp chẳng tìm đâu ra một làn khói lam chiều. Những căn nhà lên đèn, ánh sáng lung linh và sang trọng, trong khung cửa kính những người mẹ chuẩn bị bữa cơm chiều. Nhưng căn bếp ấy sao xa lạ, ánh lửa xanh không khói lạnh lùng. Tôi lại thèm làn khói bếp nhà quê. Chiều xa quê nhìn về phương quê nhà, trời tắt nắng và không gian mờ dần. Những ánh nhìn rút ngắn dần vì bức tường đêm, đẩy người lữ thứ thêm xa quê, lòng càng nhớ càng xa. Mắt dáo dác tìm ánh lửa bếp bình yên nơi góc nhà, tìm lại làn khói tuổi thơ. Dòng đời tấp nập bước chân chen lấn, đâu đó có người thầm nhủ “Thôi hãy về một chiều quê yên ả – Nhìn khói bếp chiều ru những mái tranh” (Đinh Lăng). Ôi xa quá rồi! Xa những chiều yên ả tiếng cơm sôi. Tiếng cơm sôi sùng sục rõ mồn một, tiếng xèo xèo khi nước cơm trào ra bếp lửa, tiếng mẹ đảo xới cho nồi cơm cạn, âm thanh quen thuộc ấy còn ai nhớ chăng? Chiều tan lớp lại đạp xe về ngôi nhà trọ, bụng đói mà nghĩ đến bữa cơm sinh viên, bữa ăn thiếu thốn nhiều, thiếu thứ gì đó mà đôi lúc nhìn nhau chẳng nói nên lời. Ai đó nhớ quê hát khúc nhạc chất chứa nhớ thương “Xin trả tôi về ngày xưa thơ mộng đó – Bên mái tranh chiều ngồi ngắm áng mây trôi – Mẹ quê đun bếp nghèo thơm mùi rơm qua khói mờ – Vui tình quê trìu mến…”. ■

Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 166

(Visited 118 times, 1 visits today)

Tags:

Category: Nguyễn Đại Chơn, Tùy Bút

Comments (1)

Trackback URL | Comments RSS Feed

  1. Trần Như Mộng says:

    Xin cám ơn tác giả đã đưa tôi về với những kỹ niệm thời thơ ấu. Nồng nồng, cay cay một nổi nhớ nhà, nhớ cha, nhớ mẹ, nhớ căn nhà nhỏ đơn sơ mộc mạc nhưng đầm ấm chan hoà tình cảm gia đình. Tất cả ùa về tưởng chừng như mới hôm qua.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *