Văn bản chữ Hán ở khu tháp Tổ Liễu Quán

| 13/05/2016 | 0 Comments

Bài & ảnh: NGUYỄN PHÚC VĨNH BA

van-ban-chu-hanThiền sư Liễu Quán là một danh tăng Việt Nam trong thế kỷ XVIII, thuộc đời thứ 35 dòng Lâm Tế. Ngài là một bậc đồng chân xuất gia, thọ giới Sa-di với ngài Thạch Liêm, thọ giới Cụ túc với ngài Từ Lâm và đắc pháp với ngài Minh Hoằng-Tử Dung tại chùa Ấn Tôn (tức là chùa Từ Đàm ngày nay). Theo bài minh khắc trên bia tháp của ngài do một vị cao tăng Trung Hoa là ngài Thiện Kế soạn năm 1748 và đã được ngài Thiện Siêu dịch ra tiếng Việt, thì ngài Liễu Quán được truyền y trong 43 năm, thuyết pháp lợi sinh trong 34 năm, hàng đệ tử nối pháp có 49 người, hàng đệ tử tại gia xuất gia được lợi ích nhờ sự hóa đạo của ngài lên đến ngàn vạn.

Với lượng đồ chúng đông đảo, ngài đã khai sinh một thiền phái mới thuộc dòng Lâm Tế, đó là Thiền phái Liễu Quán phát triển rất mạnh ở xứ Đàng Trong suốt nhiều thế kỷ. Bảo tháp của ngài được lập ở chân núi Thiên Thai. Khu tháp Tổ Liễu Quán núi Thiên Thai là một cụm kiến trúc lăng miếu đặc sắc, đáng được quan tâm nghiên cứu về các mặt kiến trúc, mỹ thuật, lịch sử, phong thủy… Điều đáng quý là sau bao biến động của thời cuộc, bao tàn phá của mưa gió thời gian, bao lần tu bổ, tháp Tổ Liễu Quán vẫn giữ được gần như nguyên vẹn diện mạo ngày xưa khi được tái thiết kế vào năm Ất Hợi, tức năm Gia Long thứ 14 (1815). Chúng tôi phỏng đoán vậy là dựa vào bia trùng tu sẽ nói ở phần sau.

Trong bài viết dưới đây, chúng tôi tập trung tìm hiểu về các văn bản chữ Hán hiện có tại khu tháp này để làm rõ một số điều tồn nghi trong bài viết của ông L. Sogny đã đăng trong BAVH (Bulletin des Amis du Vieux Huế, Tập san Đô thành Hiếu cổ), tập XV – năm 1928. Chúng tôi thiết nghĩ rằng ông Sogny đã nghiên cứu công phu và nghiêm túc nhưng có đôi chỗ nhầm lẫn và đôi chỗ quá tổng quát, lấy ý là chính, nên không hiển lộ được ý nghĩa thâm uyên của các văn bản này.

1.  Hoành, đối tại cổng chính tháp Tổ

Kể từ ngoài cổng khu mộ, bước qua minh đường là cổng đi vào bảo tháp của Tổ. Cổng này rất bề thế, có tầng cấp nhiều bậc đi lên, vẫn được bảo tồn như xưa, giữ được nét cổ kính rêu phong rất nghiêm nhã.

Ngay chính giữa trên đầu cổng này có câu hoành như sau:

Đàm hoa lạc khứ hữu dư hương (曇 花 落 去 有 餘 香: Hoa đàm(1) dù đã rụng mất hương thơm vẫn còn).

Câu này ý nói “Hòa thượng đã viên tịch, lời giảng kinh của Hòa thượng không còn nghe được nữa nhưng những lời dạy đó vẫn còn lưu lại trong tâm mọi người”.

Hai bên cổng vào nói trên là một câu đối. Vế bên phải từ ngoài nhìn vào là:

Bảo đạt trường minh, bất đoạn môn tiền lưu lục thủy (寶 鐸 長 鳴, 不 断 門 前 流 綠 水: Mõ quý vang hoài, trước cửa dòng nước xanh trôi chẳng dứt).

Vế bên trái là:

Pháp thân độc lộ, y nhiên tọa lý khán thanh sơn (法 身 獨 露, 依 然 坐 裏 看 青 山: Pháp thân riêng lộ rõ, vẫn ngồi trong mà ngắm núi xanh như xưa).

Cặp đối này gồm một vế động một vế tĩnh. Vế động (câu bên phải) tượng trưng cho tướng hành hoạt bên ngoài, vế tĩnh (câu bên trái) tượng trưng cho thể bất sinh bất diệt bên trong. Câu đối này ý nói Hòa thượng mất rồi nhưng tiếng mõ của Ngài còn vang mãi, lời dạy của Ngài vẫn như xưa như thể Ngài đang còn sống và đang ngắm núi xanh xa xa và nước biếc trôi hoài trước tháp.

Câu hoành và câu đối nói trên đã được đắp lại theo nét chữ ngày trước. Nét chữ rất thanh thoát và khá chân phương.

2.    Bia đá tại chân tháp Tổ

Vào trong cửa, ngay ở chân tháp có một bia đá hình chữ nhật được gắn sâu vào mặt trước của chân tháp.

Trên đầu bia là hàng chữ “Vô Lượng Quang” (無 量 光: Ánh sáng vô lượng, và còn là danh hiệu của Phật A Di Đà).

Giữa lòng bia có hàng chữ “Sắc tứ Chánh Giác Viên Ngộ Liễu công Lão Hòa thượng chi tháp” (勅 賜 正 覺 圓 悟 了 公 老 和 尚 之 塔: Tháp của Lão Hòa thượng Liễu công, (kỵ húy tên Liễu Quán của Hòa thượng), ngài được ban thụy hiệu là Chánh Giác Viên Ngộ)(2).

Vế đối bên phải là: Bổng hát chân phong gia kế thuật (棒 喝 眞 風 家 继 述: Phong cách gậy hét chân chính của thiền môn được dòng đạo này tiếp tục truyền thừa)(3).

Vế đối bên trái là: Tân lương (4) mỹ hóa quốc bao vinh(5 )(津 梁 美 化 國 褒 榮: Làm cầu bến để tế độ chúng sinh nên nước nhà ngợi ca).

3.      Nhà bia Khai hoàng Hậu thổ

Mặt trong la thành phía bên trái là một nhà bia. Tấm bia thờ có dòng chữ chính giữa ghi là“Khai Hoàng, Hậu Thổ, Nguyên Quân(5) từ tọa chi vị” 開 皇 后 土 元 君

祠 座 之 位 (Bài vị thờ các vị Thành Hoàng khai canh khai khẩn, Thổ Địa, và tổ tiên các đời trước).

Vế đối bên phải là: Uy trấn sơn xuyên, cầu tất ứng (威 鎭 山 川, 求 必 應: Uy lực trấn khắp núi sông, ai cầu xin các ngài sẽ ứng).

Vế đối bên trái là: Ân quang nhật nguyệt, đảo giai linh (恩 光 日 月, 禱 皆 靈: Ân đức sáng lòa mặt trăng mặt trời, ai nguyện chi đều linh nghiệm cả).

Điều đáng chú ý là tấm bia này hình chữ nhật bằng đá cẩm thạch, màu đậu huyết, chạm khắc rất tinh xảo, khá hiếm gặp. Chữ được khắc rất đẹp và sắc nét, hiện nay vẫn còn đọc được rõ ràng. Tuy nhiên đầu triệu của bia lại bằng đá cẩm thạch trắng, được làm riêng rồi gắn vào. E là do đợt trùng tu làm thêm. Hai câu đối hai bên được đời sau tu bổ lại. Trong đợt trùng tu gần đây, toàn bộ phần nền của tháp, nền phía ngoài la thành được lát bằng đá chẻ, phía trong được khỏa bằng nền vôi.

4.      Nhà bia tháp Tổ

Mặt trong la thành phía bên phải là một nhà bia có tấm bia lớn(6) ghi hành trạng của Tổ Liễu Quán. Nội dung bia khá dài, đã được cố Hòa thượng Thích Thiện Siêu dịch(7 ) nên sẽ không đề cập trong bài này.

Toàn bộ nhà bia này tương tự nhà bia Khai Hoàng Hậu Thổ Nguyên Quân ở phía đối diện. Tấm bia chính cũng bằng cẩm thạch đỏ. Đầu triệu của tấm bia cũng làm bằng đá hoa cương thường gặp màu nhạt hơn gắn vào. Nhà bia bằng xi-măng có mái lợp ngói âm đương. Thay vì trang trí bằng câu đối như lệ thường, hai bên nhà bia có hai tấm bia nhỏ bằng đá, gắn lõm sâu trong hai hộc hình chữ nhật dưới hai họa tiết trang trí mai trúc.

– Bia bên phải nội dung như sau(8): van-ban-chu-han

重 修 塔 祖 碑

天 台 山 禪 宗 寺 宗 門 眾 等 恭 奉 祖 德 重 光, 禪 堂 遠 照. 玆 見 寶 塔 老 翁 和 尚 已 經 頹 弊, 協 力 重 修. 事 以 落 成, 眾 同 燕 賀 祝 頌 曰:

雙 林 留 出 足       隻 履 顯 西 歸

不 生 總 不 滅       無 是 亦 無 非

慧 燈 長 存 照       丈 室 顯 容 儀

豈 辭 開 象 教       臨 溶 法 嗣 垂 嘉 隆 十 四 年 仲 夏 吉 日 弟 子 眾 等 今

全 立 石。

Phiên âm: TRÙNG TU THÁP TỔ BI

Thiên Thai sơn Thiền Tôn Tự Tông môn chúng đẳng cung phụng tổ đức trùng quang, thiền đường viễn chiếu. Tư kiến bảo tháp lão ông hòa thượng dĩ kinh đồi tệ, hiệp lực trùng tu. Sự dĩ lạc thành, chúng đồng yến hạ chúc tụng viết:

Song lâm9 lưu xuất túc Chích lý hiển tây quy10 Bất sanh tổng bất diệt Vô thị diệc vô phi
Tuệ đăng trường tồn chiếu Trượng thất hiển dung nghi Khởi từ khai tượng giáo Lâm dung pháp tự thùy.

 Gia Long thập tứ niên trọng hạ nguyệt cát nhật đệ tử chúng đẳng kim toàn lập thạch.

Dịch nghĩa: Bia trùng tu tháp Tổ

Chúng tôi, Tăng nhân và đệ tử của chùa Thiền Tôn, núi Thiên Thai, luôn chăm lo chùa miếu để Tổ đức sáng thêm, thiền đường rạng chiếu xa gần. Nay thấy bảo tháp của Lão Hòa thượng đã quá đổ nát nên chúng tôi góp sức trùng tu. Việc đã xong xuôi, chúng tôi cùng nhau ăn mừng, và viết lời chúc sau:

Nơi này đã lưu dấu chân của người xuất gia. Nay Thầy một mình về cõi Niết-bàn.
Không sinh ra nên cũng chẳng mất đi. Không đúng mà cũng không sai.
Đèn trí tuệ vẫn còn sáng mãi.
Phòng thiền vẫn còn bóng dáng uy nghi của Thầy. Kể từ ngày khai lập Thiền Lâm Tế ở Trung Hoa Nay đã có người nối dõi ở nước ta rồi.

(Rừng song8 lưu dấu chân đi
Một hài vui bước Tây quy nhẹ nhàng Không sinh nên cũng không tàn
Không sai không đúng sự phàm khác xa Đèn trí huệ vẫn sáng lòa
Phòng thiền vẫn bóng hiền hòa thầy xưa Kể từ khai giáo ban sơ
Mừng rằng nối pháp bây giờ có đây).

Chúng đệ tử nay dựng bia vào ngày tốt tháng Tư năm Ất Hợi tức năm Gia Long thứ 14 (1815)

Bia bên trái có nội dung như sau(8):

夫 人 生 兩 間 禀 乾 始 坤 元 而 成 質. 教 流 東 土 勸 眾 人 做 善 以 存 心. 是 故, 為 善 最 樂, 良 知 因 果 以 無 差, 捨 施 寵 多, 夢 醒 塵 寰 之 不 錯. 善 願 良 心 有 慈 航 而 必 渡, 信 誠 一 念 憑 慧 燭 以 超 昇. 因 賦 古 風 謂 為 銘 曰﹕

誌 詩 曰:

世 界 三 千 一 果 藏 祇 園 鷲 嶺 活 茫 茫 善 緣 崇 起 施 無 量 福 果 圓 成 適 樂 邦 廣 照 冥 途 憑 慧 燭 濟 離 苦 海 仗 慈 航 維 新 寶 塔 千 秋 跡 信 善 咸 零 慶 會 堂

朱 門 貴 爵 士 信 人 等 玆 施 主:

欽 差 屬 內 掌 奇 正 管 圖 家 謹 慎 侯 黃 文 緣 法 名 性 覺,同 緣 黎 氏 格 法 名 性 聰,鄧 氏 富 法 名 性 直, 善 願 良 心 資 財 信 供 積 緣 流 芳. 是 為 銘 矣。

天 運 乙 亥 年 仲 夏 月 吉 日 立 石。

Phiên âm: Phù nhân sinh lưỡng gian bẩm càn thuỷ khôn nguyên nhi thành chất. Giáo lưu đông thổ khuyến chúng nhân tố thiện dĩ tồn tâm. Thị cố, vi thiện tối lạc, lương tri nhân quả dĩ vô sai, xả thi sủng đa, mộng tỉnh trần hoàn chi bất thác. Thiện nguyện lương tâm hữu từ hàng nhi tất độ, tín thành nhất niệm bằng tuệ chúc dĩ siêu thăng. Nhân phú cổ phong vị vi minh viết:

Chí thi viết:

Thế giới tam thiên nhất quả tàng, Kỳ viên Thứu lãnh hoạt mang mang Thiện duyên sùng khởi thí vô lượng Phúc quả viên thành thích lạc bang
Quảng chiếu minh đồ bằng tuệ chúc Tế ly khổ hải trượng từ hàng
Duy tân bửu tháp thiên thu tích
Tín thiện hàm linh khánh hội đàng (đường).

Chu môn quý tước sĩ tín nhân đẳng tư thí chủ. Khâm sai thuộc nội chưởng kỳ chánh quản Đồ Gia(11)

Cẩn Thận Hầu Hoàng Văn Duyên pháp danh Tánh Giác, đồng duyên Lê Thị Cách pháp danh Tánh Thông, Đặng Thị Phú pháp danh Tánh Trực thiện nguyện lương tâm tư tài tín cúng, tích duyên lưu phương. Thị vi minh hỹ.

Thiên vận Ất Hợi niên trọng hạ nguyệt cát nhật lập thạch.

Dịch nghĩa: Ôi, sinh ra làm người trong cõi nhân gian này vốn dĩ nguyên do đất trời âm dương tạo thành. Đạo Phật truyền đến Đông thổ cốt khuyên mọi người làm việc thiện để giữ tâm an lạc. Cho nên, làm việc thiện thì

vui vô cùng, mới hay lý nhân quả không hề sai, bỏ việc thu quén thật nhiều thì tỉnh mộng trần gian mới hiểu là nên vậy. Kẻ có lương tâm và thiện nguyện ắt được thuyền từ tế độ, người có lòng tín thành thì nhờ đuốc tuệ để siêu thăng. Nhân dịp trùng tu này viết bài thơ cổ phong làm bài minh vậy.

Thơ ghi rằng:

Một quả chứa ba ngàn thế giới Vườn Kỳ đỉnh Thứu vui phơi phới
Thiện duyên bùng dậy giúp bao người Phước quả vuông tròn vui cõi mới
Soi sáng đường đêm đuốc tuệ soi Vượt qua biển khổ thuyền từ đợi Sửa sang tháp quý lưu ngàn sau Muôn kẻ tín tâm cùng tụ hội.

 Các nhà hằng tâm hằng sản, người có chức tước cao, người có lòng tín thành xin làm thí chủ:

Cẩn Thận hầu Hoàng Văn Duyên, pháp danh Tánh Giác, Khâm sai thuộc Nội chưởng kỳ làm Chánh quản Đồ Gia và vợ là bà Lê Thị Cách, pháp danh Tánh Thông, bà Đặng Thị Phú, pháp danh Tánh Trực có lòng thiện nguyện cúng dường tài vật, tích duyên tích đức đế lại tiếng thơm. Nay ghi vào đây.

Năm Ất Hợi, tháng Tư ngày tốt lập bia này.

Hai tấm bia trùng tu này dù làm sau, nhưng chất lượng đá sa thạch của bia không chịu nổi sự tàn phá của mưa gió. Mặt bia đã mòn, nhiều chữ đã mờ hẳn. Có lẽ phải chạm lại một số chữ trên hai tấm bia trên hoặc có biện pháp để bảo quản tốt hơn.

Chúng tôi dựa vào thông tin từ các bia, vật liệu kiến trúc tạm thời suy đoán rằng vì khu tháp đã bị tàn phá dưới thời Tây Sơn khá nhiều nên diện mạo kiến trúc hôm nay chúng ta thấy chính là do đã được trùng tu vào năm Gia Long thứ 14. Trong bia trùng tu có nói là bảo tháp đã đổ nát. Hai đầu triệu ở bia Khai Hoàng và bia Tổ khác loại đá với thân bia được thêm vào v.v… Chất liệu nề và ngói âm dương cũng không thấy ở lăng các chúa. Ở thời này, qua lăng mộ của các chúa Nguyễn thì phần lớn bằng vôi vữa và gạch vồ. Quy mô lăng của các chúa cũng nhỏ nhắn và không uy nghi bằng. Trong khi mộ Tổ với tầng cấp, cổng vào rất uy nghi và trang trọng. Tuy nhiên, việc xác định thời điểm xây dựng này cần nhiều nghiên cứu khoa học và cụ thể hơn.van-ban-chu-han

Thật đáng mừng khi thấy khu tháp Tổ Liễu Quán thiền sư đến nay vẫn còn cổ kính và nghiêm phong như ngày ấy, xứng đáng với công đức khuyến giáo của Tổ vậy. Công đức bảo tồn tháp Tổ thật đáng ngợi khen. ■

 

Chú thích:

  1. Hoa đàm là hoa ưu đàm (trong tiếng Phạn hay tiếng Pali là udumbara, có nghĩa là“loài hoa linh thiêng mang điềm lành từ Trời”. Hoa đàm đuốc tuệ trong thuật ngữ Phật giáo chỉ giáo lý của đức Phật.
  2. Chỗ này Sogny dịch nhầm là Hòa thượng Liễu Công Lão, thành ra vô nghĩa.
  3. Tiếng hét và gậy đập (bổng hát) là hai phương tiện giáo hóa của sư Lâm Tế. Sư Liễu Quán là Tổ thứ 35 của Lâm Tế tông. Bài viết của Sogny không nói tới chi tiết này.
  4. Tân lương là tỉ dụ cây cầu tế độ chúng sinh. Dẫn chứng trong Đôn Hoàng biến văn tập. Duy Ma Cật kinh giảng kinh: “Nhược yếu phao ly sinh tử hương. Tu tri nội ngoại tác tân lương.” Nghĩa là muốn rời khỏi quê hương sinh tử, phải biết làm cầu bến trong với ngoài (敦 煌 變 文 集· 维 摩 詰經 講 經:“若 要 抛 離 生 死 鄉,须 知 内 外 作 津 梁” ) (theo tự điển online zdict.net).
  1. Bao vinh là khen ngợi khôn xiết. Lấy từ tích, khi Khổng Tử viết kinh Xuân Thu, khen ai một chữ thì được xem như là một đóa hoa trên áo cổn nhà vua (Nhất tự chi bao, vinh như cổn hoa).
  2. Nguyên Quân là tổ tiên (theo tự điển online net).
  3. Bia dựng vào năm Cảnh Hưng thứ 9 (1748), tức thời chúa Hiếu Võ vương Nguyễn Phúc Khoát (1738 – 1765). Trên bia có dấu triện vuông ghi là “Quốc Tông ngự bút chi bảo”. Ông Sogny nhầm là Hiếu Ninh vương.
  4. Xem đặc san Liễu Quán số 1/ Tháng 1.2014 hay tạp chí Nghiên cứu Huế tập 6/ 2008 (Phan Đăng).
  1. Nội dung hai tấm bia trùng tu này được thầy Tâm An gửi cho. Chúng tôi dịch theo bản in này và có đối chiếu với
  2. Song lâm là Song thọ lâm, rừng cây sala, nơi Đức Phật nhập diệt. Ở đây ẩn dụ nơi Tổ Liễu Quán viên tịch. Ông Sogny không hiểu điển tích này nên dịch là“Ngài đã xây dựng trú xứ ở một tỉnh khác tỉnh nguyên quán của mình”.
  3. Chích lý Tây quy: Một chiếc hài đi về phía Tây, ý nói đã nhập Niết-bàn. Lấy từ tích Tổ Đạt Ma tây Tống Vân đi sứ ở Tây Vực về, ngang qua núi Thông Lãnh thì thấy Tổ Đạt Ma vác gậy, treo một chiếc dép, phi hành như gió. Tổ ngoái đầu lại bảo, Tống Vân về gấp, chủ của nhà ngươi sắp đi. Tống Vân về đến triều thì vua mất. Tống Vân nghiệm thấy quá linh nghiệm. Về sau khi khai quật tháp Đạt Ma thì trong quan tài không thấy di thể của Tổ mà chỉ còn một chiếc dép.
  4. Đồ Gia là một cơ sở chế tạo sản xuất của triều Nguyễn nằm ngoài cửa Chánh Nam (cửa Nhà Đồ).

Tạp Chí văn Hoá Phật Giáo số 196

Tags: , , , ,

Category: Featured, Nguyễn Phúc Vĩnh Ba, Văn Học

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *